Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
hệ thống chính trị
Skip portletPortlet Menu
 
Tin tức sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
văn bản chỉ đạo điều hành
Skip portletPortlet Menu
 
CÔNG KHAI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Skip portletPortlet Menu
 
quy hoạch ptktxh
Skip portletPortlet Menu
 
văn hóa anh sơn
Skip portletPortlet Menu
 
doanh nghiệp
Skip portletPortlet Menu
 
Thông tin
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
Tam Sơn
 
Tam Sơn (10/05/2013 07:07 AM)

ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ TAM SƠN

Điện thoại: 0383.872.272

Email: tamsonanhson@gmail.com

 

TT

Họ và tên

Chức vụ

Số ĐT

1

Bùi Văn Ngọc

BT Đ/U, CT HĐND

0919.577.694

2

Trần Phi Hanh

TV Trực đảng

0974.254.258

3

Ngân Thị Cúc

PCT HĐND

0978.197.995

4

Nguyễn Văn Toàn

CT UBND

0945.684.125

5

Nguyễn Văn Quế

PCT UBND

01688.356.489

6

Nguyễn Duy Sơn

CT MTTQ

01646.545.123

7

Nguyễn Văn Hùng

CT Hội ND

0948.313.612

8

Nguyễn Thị Thu

CT Hội LHPN

01686.977.372

9

Nguyễn Mai Tú

BT Đoàn TN

0917.125.800

10

Nguyễn Văn Vỹ

CT Hội CCB

01678.516.465

11

Nguyễn Văn Bình

CHT QS

01699.439.564

12

Nguyễn Văn Tuấn

Trưởng CA

0974.544.046

13

Nguyễn Sỹ Lừng

ĐC-XD

0946.232.716

14

Đậu Văn Anh

ĐC-XD

0919.393.478

15

Nguyễn Đức Vinh

Tư Pháp-HT

0919.724.525

16

Nguyễn Văn Lợi

VH-XH(CS)

01633.975.900

17

Nguyễn Thị Thủy

VH-XH(VHTT)

01638.632.101

18

Ngân Văn Quyết

TC-KT

0945.011.477

19

Trần Thị Bắc

TC-KT

0983.218.252

20

Nguyễn Doãn Huy

VP-TK

0915.031.295

21

Phạm Ngọc Hướng

VP-TK

01669.720.777

22

Lê Thị Dung

CB Dân số

0975.436.621

Giới thiệu chung:

Xã Tam Sơn nằm ở phía Tây Bắc huyện Anh Sơn, thuộc xã miền núi, nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc Kinh, Thái. Tại đây sản xuất nông, lâm nghiệp đang giữ vai trò rất quan trọng của nền kinh tế; Các ngành nghề và dịch vụ chưa phát triển.

Tam Sơn là xã có bề dày lịch sử truyền thống trong đấu tranh chống thiên tai, địch họa và cần cù, chịu khó trong lao động, sản xuất. Với tinh thần tự lực, tự cường, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, các thế hệ nhân dân Tam Sơn đã nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, biến vùng đất hoang sơ thành những xóm làng trù phú. Từ khi Đảng ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng bộ và nhân dân Tam Sơn tiếp tục làm nên những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển quê hương.

Tam Sơn là xã nằm phía Tây tả ngạn sông Lam, đầu huyện Anh Sơn tiếp giáp với huyện Con Cuông, cách thị trấn Anh Sơn hơn 20 km; Phía Đông giáp xã Đỉnh Sơn; phía Tây giáp xã Bồng Khê (Con Cuông); phía Bắc giáp xã Mậu Đức (Con Cuông); phía Nam giáp với Sông Lam, bên kia sông là xã Đỉnh Sơn và nông trường Bãi phủ.

Là xã thuộc vùng bán sơn địa. Địa hình chủ yếu của Tam Sơn là rừng núi và đồi trọc, với tổng diện tích tự nhiên hiện nay 1.888 ha. Thuở xưa vùng đất này là núi rừng rậm rạp, có nhiều loại gỗ quý như: lim, sến, táu… nhiều cây hai người ôm không xuể, các loại mét, nứa, mây… thì nhiều vô kể. Trong rừng có nhiều loại củ như: củ mài, củ nâu; các loại hạt như hạt dẻ, hạt gấm; các loại dược liệu như: hà thủ ô, thiên niên kiện… Len lách giữa những rừng gỗ quý là những rừng chuối bạt ngàn. Rừng Tam Sơn có nhiều loại thú như: hổ, chồn, cáo, lợn rừng, bìm bịp, chim quốc… Rừng núi Tam Sơn với thảm thực vật phong phú, động vật đa dạng trở thành nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm cho người dân khi mất mùa; các nguyên vật liệu để làm nhà; dược liệu để chữa bệnh. Mặc dù vậy, trong quãng thời gian những năm 1990 – 1994,  rừng bị người dân trong xã và nhân dân các vùng khác tới khai thác và tàn phá. Thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước từ năm 1995, xã đã thực hiện Nghị định 34/CP về trồng và bảo vệ rừng nên hàng chục vạn cây bạch đàn, cây keo, cây mét đã được người dân Tam Sơn trồng, chăm sóc. Vì thế đến nay độ che phủ của rừng 100%

Len lách giữa các dãy núi là nhiều khe suối như: khe Chè, Cầu Cửa Điện, khe Cây Giới, khe Cấy… với lưu lượng dòng chảy không lớn, thường cạn về mùa nắng hạn. Khe suối Tam Sơn cũng mang lại nguồn lợi thủy sản cho con người như: cá, tôm, cua. Ngoài ra, các khe còn là nguồn cung cấp nước cho các đập nước trong xã như đập Khe Cơi với trữ lượng khoảng 1,2 triệu m3. Hệ thống sông, suối, đập cùng những dãy núi đang được người dân bảo vệ và trồng mới khiến cho Tam Sơn có thuận lợi để biến vùng đất xưa kia khô cạn về mùa nắng, lũ lụt vế mùa mưa trở thành vùng đất thuận lợi phát triển nông nghiệp. Nếu trước đây từ chỗ chỉ gieo trỉa được 2 vụ ngô bấp bênh thì đến nay Tam Sơn trở thành địa phương có hai vụ đạt năng suất cao, nhiều năm còn gieo trỉa được 3 vụ.

Trước đây, giao thông đi lại của Tam Sơn với các vùng khác gặp rất nhiều khó khăn. Về mùa mưa lụt thường bị cô lập, giao thông đi lại phải qua các con đò nhỏ rất nguy hiểm. Nhưng hiện nay các trục đường liên thôn, liên xã đã được mở rộng, nhiều nơi đã được đổ bê tông, đổ cấp phối tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của nhân dân. Với trục đường liên xã kéo dài từ cầu cây Chanh lên giáp đất Khe Rạn (xã Bồng Khê, huyện Con Cuông) và sông Lam uốn khúc chạy qua địa bàn với chiều dài 7,1 km đã tạo điều kiện khá thuận lợi cho Tam Sơn trong quá trình phát triển kinh tế, giao lưu, buôn bán, trao đổi giữa các vùng miền.

1.1.  Vị trí địa lý

Xã Tam Sơn nằm về phía Bắc huyện Anh Sơn, có ranh giới hành chính với các xã:

- Phía Bắc giáp huyện Con Cuông

- Phía Đông giáp Thôn 6 của xã Đỉnh Sơn huyện Anh Sơn

- Phía Nam giáp huyện Con Cuông

- Phía Tây giáp huyện Con Cuông.

Là một xã bán sơn địa nằm phía tả ngạn của sông Lam, giao thông đến xã hiện tại chủ yếu qua cầu bắc qua sông Lam, dân cư sống chủ yếu tập trung tại các vùng bằng lộ, dân sống thuần nông, cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp.

Vị trí địa lý trên đã chi phối đến các yếu tố khí hậu, thuỷ văn, địa mạo, sinh vật và hoạt động phát triển kinh tế xã hội của xã.

1.2. Đặc điểm địa hình, địa mạo

Tam Sơnxã thuôc vùng núi phía Bắc huyện Anh Sơn nên đặc điểm địa hình, địa mạo của xã mang nét đặc trưng của khu vực này. Về cơ bản có thể chia thành 2 dạng địa hình chính là vùng đồi núi và đồng bằng.

Vùng đồi núi: chiếm gần 2/3 diện tích tự nhiên của xã, bao gồm đồi đá, núi đất và đồi thoải phân bố chủ yếu ở phía Bắc của xã. Khu vực này có độ dốc tương đối lớn, đạt từ 20-250 tuỳ từng khu vực. Là Đất lâm nghiệp nên vùng này đang được trồng các cây lâm nghiệp như Keo, mét, mỡ, bạch đàn và các cây bản địa khác...Nhưng chủ yếu là cây phục vụ nguyên liệu giấy phần còn lại là đất trống IA; IB. Trong khu vực này có nhiều con suối và khe kênh rạch lớn như Khe Cây Kè, khe Thẳng, Khe Cấy, Khe Đào ...có nguồn nước chảy tự nhiên quanh năm được người dân kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản và cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp.

Vùng đồng bằng: phân bố chủ yếu ở phía Nam dọc sông Lam giáp với huyện Con Cuông, địa hình tương đối bằng phẳng. Trên diện tích đất này đang được khai thác vào trồng lúa nước, trồng ngô; đậu; lạc; bố trí khu dân cư và xây dựng cơ sở hạ tầng của xã.

Nhìn chung địa hình của xã đa dạng và phức tạp, diện tích đồi núi, đồng bằng, sông suối, hồ đập đan xen với nhau tạo nên nhiều mặt thuận lợi. Song cũng gây ra không ít khó khăn trong việc bố trí xây dựng cơ sở hạ tầng; quy hoạch phát triển cây trồng, vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

 1.3. Thời tiết khí hậu

Cũng như các xã thuộc huyện Anh Sơn, xã Tam Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và mang những đặc điểm riêng của khí hậu khu vực miền Trung. Khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa, nóng từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm. Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau:

- Nhiệt độ:

- Nhiệt độ không khí bình quân hàng năm: 23,60C

- Nhiệt độ không khí cao nhất: 40 - 410C (tháng 6, tháng 7)

- Nhiệt độ không khí thấp nhất: 5 - 60C (tháng 12, tháng 1).

- Độ ẩm: Qua số liệu quan trắc hàng năm tại tỉnh Nghệ An cho thấy:

- Độ ẩm không khí trung bình hàng năm     : 55%

- Độ ẩm không khí tháng lớn nhất (tháng 3)  : 95%

- Độ ẩm không khí tháng thấp nhất (tháng 7)       : 25%.

- Lượng mưa:

- Lượng mưa trung bình hàng năm   : 1.870 mm

- Lượng mưa năm lớn nhất                   : 3.500 mm

- Lượng mưa năm nhỏ nhất                   : 1.105 mm.

Lượng mưa phân bố không đều trong năm, tập trung chủ yếu vào tháng 8, 9 chiếm 75% - 80%. Tháng có lượng mưa ít là tháng 2, tháng 3, tháng 7.

- Chế độ gió: Có 2 hướng gió thịnh hành:

+ Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, gió về thường mang theo mưa phùn và giá rét, thỉnh thoảng xuất hiện sương mù và sương muối ảnh hưởng bất lợi đến sức khoẻ và đời sống con người và một số loại cây trồng.

 + Gió mùa Tây – Nam (gió Lào) thổi từ tháng 4 đến tháng 8. Tập trung cao nhất vào tháng 5, tháng 6. Đây là loại giói đặc trưng của Anh Sơn nói riêng và khu vực Bắc miền Trung nói chung, gây khô nóng ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và đời sống con người (hạn chế đến sinh trưởng phát triển của cây lúa trong thời kỳ đầu, làm tích luỹ sắt gây thoái hoá đất).

+ Bão: Hàng năm chịu ảnh hưởng của bão vào tháng 8, tháng 9 nhưng không gây tác hại lớn

- Nắng: Số giờ nắng trong năm: 1.668 giờ. Các tháng nắng nhiều là: tháng 5, tháng 6, tháng 7, bình quân tới 7 đến 8 giờ/ ngày. Tháng ít nắng nhất là tháng 2 bình quân có 1,6 giờ/ngày, thường có mưa phùn.

Yếu tố khí hậu Tam Sơn nói chung thuận lợi để phát triển cây trồng vật nuôi, song biên độ nhiệt giữa các mùa trong năm lớn, mưa tập trung, mùa nắng nóng khô hanh, đó là nguyên nhân gây ra hạn hán, xói mòn, bồi lấp, hủy hoại đất. Trong sử dụng đất cần có những biện pháp thích hợp để hạn chế các hiện tượng bất lợi của điều kiện khí hậu trên (chọn cây con có khả năng thích hợp cao, mùa vụ gieo trồng phù hợp tránh những thời điểm có nhiều bất lợi).

1.4. Thuỷ văn nguồn nước.

Hệ thống thuỷ văn trên địa bàn xã được chi phối trực tiếp bởi cấu tạo địa hình, hệ thống sông, hồ đập chứa nước trong khu vực.

Sông Lam chạy qua phía Nam của xã. Đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp khu vực đồng bằng của xã, khu vực phía Bắc có nhiều suối, khe kênh rạch lớn đảm bảo cho tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp được thuận lợi.

2. Các nguồn tài nguyên

2.1. Tài nguyên đất.

Căn cứ nguồn gốc phát sinh đất đai, trên địa bàn xã có những nhóm đất chính sau:

- Đất phù sa:

+ Bãi cát ven sông Lam: Phân bố rải rác dọc bên sông Lam. Có địa hình tương đối bằng, thấp, thường bị ngập lụt hàng năm. Thành phần cơ giới đất chủ yếu là cát, có nơi lẫn sỏi, không sử dụng được cho trồng trọt. Mục đích sử dụng chủ yếu là nguồn cung cấp cát sỏi xây dựng.

+ Đất phù sa được bồi hàng năm: Loại đất này phân bố ở ven sông Lam, hàng năm bị ngập lụt vào mùa mưa và được bồi thêm một lớp phù sa, nơi thấp lụt tiểu mãn cũng ngập. Đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, pH(kcl) 6,7 - 7,2, đạm tổng số 0,126%, lân tổng số 0,069%, kali tổng số 0,254%. Đây là loại đất có nhiều tính chất tốt: Cấu tượng tốt, các chất đạm, lân, kali tổng số cũng như các chất dễ tiêu đều khá, khả năng trao đổi cao, loại đất này phù hợp cho các loại cây trồng như: ngô, lạc, mía, đậu, rau...Trong thời gian tới cần có biện pháp để bảo vệ cho đất không bị xói lở bào mòn, bồi lấp, như trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, trồng rừng ven sông.

+ Đất phù sa không được bồi không có glây hoặc glây yếu – chua: ở địa hình cao hơn nằm phía trong của đất phù sa được bồi hàng năm, nguồn gốc là đất phù sa do quá trình canh tác lâu đời, chế độ nước không ổn định và hợp lý nên chất màu kém dần. Hầu hết đất có sản phẩm Peralit, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt nặng tùy từng vùng. Đất có phản ứng chua (pH(kcl) phần lớn nhỏ hơn 5), ít mùn, lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo (lân tổng số 0,02 - 0,04%, lân dễ tiêu thường là vệt, kali trung bình (kali tổng số 0,12 - 1,00%). Đây là loại đất tương đối tốt, phù hợp cho sản xuất lúa nước và các loại rau màu ngắn ngày khác. Đối với loại đất này cần tập trung đầu tư cải tạo như thủy lợi, xây dựng đồng ruộng, ổn định đất hai vụ lúa đưa năng suất lên cao. Đất trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày cần chọn cây trồng thích hợp, canh tác hợp lý, tăng chất hữu cơ chống rửa trôi giữ cho đất không bị thoái hóa.

- Đất đồi núi:

+ Đất Feralit nâu vàng phát triển trên phù sa cổ: Loại đất này có lớp phù sa, cuội có thể dày 2 - 3 m, là loại đất đồi có lý tính tốt, chất dinh dưỡng khá. Hiện nay hầu hết loại đất này đã được bố trí dân cư.

+ Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét: Đây là loại đất quan trọng, chứa đựng nhiều tiềm năng và thế mạnh của xã. Là loại đất có diện tích lớn nhất và tương đối tốt về lý tính cũng như hóa tính. Đất có phản ứng chua (pH( kcl) 4 - 5), đạm tổng số trung bình (0,08% - 0,1%), kali tổng số trung bình (0,1% - 0,15%), thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, tầng đất trung bình hoặc dày (40 cm -120 cm).

Đất này thích hợp cho trồng nhiều loại cây công nghiệp và cây ăn quả: Đất tầng dày có thể trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả như chè, cam, quýt. Tầng đất trung bình trồng chè, ít dốc có thể trồng hoa màu như mía, khoai, sắn, đậu.... Tầng đất mỏng có thể trồng dứa, trẩu, trồng rừng, làm đồng cỏ. Đây cũng là loại đất đã và sẽ là địa bàn chủ yếu để bố trí khu dân cư của huyện ở vùng đồi.

Theo thống kê đất đai tính đến ngày 31/12/2010, quỹ đất của xã là 1.373,87 ha, trong đó đất dành cho nông nghiệp là 1.196,36 ha, đất phi nông nghiệp là 149,67 ha còn lại là đất chưa sử dụng với diện tích 27,84 ha. Để nâng hiệu quả sử dụng của đất trong kỳ quy hoạch cần đưa một phần diện tích đất chưa sử dụng vào sử dụng cho các mục đích.

2.2. Tài nguyên nước

Nguồn tài nguyên nước trên địa bàn xã chủ yếu được cung cấp bởi 3 nguồn là nguồn nước mặt, nước mưa và nguồn nước ngầm.

- Nguồn nước mưa: Nguồn nước mưa của xã đạt khoảng 1.800 mm/năm, nhưng do lượng mưa phân bố không đều trong năm nên không có ý nghĩa nhiều trong việc điều tiết nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp cũng như phục vụ cuộc sống của người dân. Bên cạnh đó việc nước mưa tập trung còn gây những ảnh hưởng không tốt đến xã như gây xói mòn, rửa trôi, đôi khi xạt lở, lũ,...

Tuy nhiên, nguồn nước mưa là nguồn nước quan trọng cung cấp cho những hồ đập tích nước trên địa bàn và là nguồn bổ sung nâng cao mực nước ngầm trong đất.

- Nguồn nước mặt: xã Tam Sơn có nguồn nước mặt tương đối dồi dào nhưng phân bố không đều trong năm vào mùa khô lưu lượng nước thấp ngược lại vào mùa mưa lượng nước lớn. Nguồn nước mặt của xã được lưu trữ ở hồ, ao, kênh mương và được cung cấp từ 2 nguồn đó là nước mưa và nước thẩm thấu từ các tầng nước ngầm lên hệ thống sông hồ, kênh mương trên địa bàn. Đặc biệt nguồn nước mặt quan trọng của xã là sông Lam và các khe suối trên khu vực phía  Bắc của xã.

- Nguồn nước ngầm: Tuy chưa có tài liệu điều tra chuyên ngành, nhưng qua thực tế khai thác của nhân dân thấy rằng nguồn nước ngầm phân bố khá rộng, chất lượng đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân, có khả năng khai thác theo kiểu công nghiệp.

Qua khảo sát cho thấy chất lượng nước mặt cũng như nước ngầm trên địa bàn xã có chất lượng tốt chưa bị ảnh hưởng lớn của các quá trình hoạt động của con người gây ra.

2.3. Tài nguyên rừng

Theo số liệu thống kê kết quả rà soát 3 loại rừng theo Quyết định số 482/ QĐ - UBND-NN ngày02/2/2007 của UBND tỉnh Nghệ An thì đất lâm nghiệp của xã Tam Sơn có 868,95 ha thuộc rừng  sản xuất, hiện tại diện tích đất lâm nghiệp đã được giao đất giao rừng cho các hộ gia đình cá nhân quản lý sử dụng  về mục đích lâm nghiệp. Còn một phần nhỏ là các vạt rừng trồng tre ven sông Lam để bảo vệ đất vào mùa mưa lũ. Tiềm năng về lâm nghiệp của Tam Sơn là khá lớn, đất lâm nghiệp chiếm 2/3 diện tích của toàn xã,  phân bố chủ yếu là đồi thấp, độ dốc nhỏ, thổ nhưỡng tốt (chủ yếu là đất phát triển trên đá phiến sét). Do vậy không cần phải đầu tư nhiều về việc tu bổ chăm sóc, nhiều nơi chỉ cần khoanh nuôi bảo vệ tốt cũng có thể thành rừng. Điều kiện kết hợp nông lâm cũng rất thuận lợi.

2.4. Tài nguyên khoáng sản

Hiện tại ở Tam Sơn theo các kết quả thăm dò chưa tìm thấy trữ lượng khoáng sản để khai thác.

2.5. Tài nguyên nhân văn

Xã Tam Sơn mang những đặc trưng của nền văn hóa khu vực với truyền thống nhân văn giàu tình làng nghĩa xóm, lá lành đùm lá rách đậm đà bản sắc dân tộc từ lâu đời của người Việt. Nhân dân trong xã cùng đoàn kết tương trợ lẫn nhau, biết khắc phục khó khăn, kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, thành quả đạt được để phát triển mạnh nền kinh tế - xã hội.

Trong thời kỳ đổi mới bên cạnh việc giữ gìn bản sắc dân tộc, nhân dân trong xã đã, đang ngày một tiếp thu văn hóa hiện đại thông qua hệ thống truyền thông và các hình thức tuyên truyền của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, nêu cao tinh thần cộng đồng trong công cuộc hòa nhập với sự phát triển chung của khu vực.

3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

3.1. Hiện trạng dân số và phân bố dân cư

Theo số liệu thống kê: Tam Sơn có 630 hộ, 2.749 khẩu, phân bố ở 9 thôn, bản dân cư. Tính đến cuối năm 2013 tỉ lệ tăng dân số tự nhiên 14,4%. Trên địa bàn xã có 2 dân tộc sinh sống đó là dân tộc Kinh và dân tộc Thái, trong đó dân tộc Thái chiếm 10% tổng số dân số toàn xã.

Dân cư phân bố chủ yếu ở vùng  trung tâm hai bên dọc tuyến đường nhựa trục qua UBND xã và các đường lớn trong xã.

Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình được quan tâm thường xuyên, các biện pháp tránh thai được phổ biến rộng rãi. Nhân dân xã Tam Sơn luôn đoàn kết, cùng nhau xây dựng quê hương. Mật độ dân số là 160 người/km2.

3.2. Hiện trạng cơ cấu kinh tế

Trong thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước, nhất là từ năm 2005 đến nay kinh tế - xã hội xã Tam Sơn có bước chuyển biến đáng kể. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau đều cao hơn năm trước. Tăng trưởng năm 2013 là 10,5%. Năm 2013: Tổng GTSX  34,6 tỷ đồng.

Năm 2013, tỷ trọng ngành nông lâm ngư nghiệp 75%; ngành TTCN và xây dựng 15%, ngành dịch vụ thương mại đạt 10%.

Thu nhập bình quân năm 2013:   13 triệu đồng/người.

4. Hiện trạng sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.

Khu vực kinh tế nông nghiệp

Là một xã nằm phía tả ngạn sông Lam, giao thông đến xã tương đối khó khăn, trong năm qua kinh tế nông nghiệp xã đang giữ vị trí hàng đầu trong phát triển kinh tế xã hội và là nguồn thu nhập chính của đại bộ phận dân cư.

Trong những năm qua xã đã tập trung vào việc thâm canh tăng năng suất, thay đổi cơ cấu mùa vụ, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi nên đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, tăng giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác.

* Về trồng trọt:

Cơ cấu cây trồng, mùa vụ tiếp tục được chuyển đổi có hiệu quả, đưa các loại giống có năng suất cao vào sản xuất kết hợp với các biện pháp thâm canh. Triển khai tốt các đề án ứng dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất, làm tốt công tác bảo vệ thực vật, chất lượng cung ứng giống, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng mùa vụ phù hợp nên năng suất các loại cây trồng tăng lên. Sản lượng lương thực trong năm 2013 đạt 2550 tấn.

+ Đối với cây lúa: Tập trung sản xuất trên những vùng chủ động được nguồn nước nhằm đảm bảo nguồn lương thực tại chỗ. Hiện tại xã đang sản xuất 3 vụ trong đó tập trung sản xuất vụ xuân và vụ mùa. Theo số liệu thống kê sản lượng lúa năm 2013 đạt 180 tấn.

+ Cây Lạc: Hiện tại xã đang sản xuất trên 25 ha, Năm 2013 sản lượng đạt 50 tấn, đây đang là một trong các loại cây trồng đang được đầu tư sản xuất trên địa bàn xã.

 + Cây Ngô: Cây Ngô hiện đang là cây lương thực phát triển mạnh mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân. Hiện tại xã đang gieo trồng trên 436 ha (cả năm), sản lượng năm 2013 đạt 2180 tấn.

* Lâm nghiệp

Ngành Lâm nghiệp mang ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển kinh tế cho người dân trên địa bàn xã. Diện tích lâm nghiệp chiếm gần 2/3 diện tích tự nhiên của xã, vì vậy phát triển về kinh tế lâm nghiệp là một lợi thế trước mắt cũng như lâu dài cho nhân dân trên địa bàn xã Tam Sơn. Ngoài không những có giá trị về kinh tế mà nó còn mang ý nghĩa rất lớn đối với môi trường sinh thái hiện nay.

Hiện tại tổng diện tích đất lâm nghiệp của xã Tam Sơn có  868,95 ha  thuộc  đối tượng rừng sản xuất.

Trong đó: + Diện tích đất có rừng là: 722,65 ha.

- Đất có rừng tự nhiên: 208,3 ha.

- Đất có rừng trồng: 514,35 ha.

+ Diện tích đất trống chưa có rừng: 135,0 ha.

- Đất trống IA:.32,0 ha.

- Đất trống IB: 60,0 ha.

- Đất trống IC:  43,0 ha.

+ Diện tích đất khác trong lâm nghiệp là : 11,3 ha.

Việc phát triển ngành lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của xã cũng như người dân trên địa bàn. Hiện nay việc giao đất khoán rừng đến từng hộ gia đình và quy hoạch 3 loại rừng được triển khai thực hiện mang lại hiệu quả cao. Diện tích rừng trồng nguyên liệu của người dân ngày một tăng lên rõ rệt ; Ngoài sự đầu tư của các  dự án, người dân còn ý thức được tự bỏ vốn đầu tư để trồng rừng nguyên liệu, mang lại thu nhập trước mắt cũng như lâu dài cho các hộ gia đình trên địa bàn xã. Công tác tu bổ, chăm sóc khoanh nuôi và bảo vệ rừng  đạt hiệu quả tốt. Xã đã thực hiện quy hoạch và giao chỉ tiêu vùng trồng cây nguyên liệu, tổ chức đoàn liên ngành kiểm tra đất lâm nghiệp vùng giáp biên, vùng rừng tự nhiên hiện có; nâng cao ý thức trong công tác bảo vệ  phát triển rừng. Luôn coi trọng việc PCCC rừng, hạn chế tối đa hiện tượng chặt phá rừng và cháy rừng ở phạm vi lớn.

* Nuôi  trồng thuỷ sản

Xã có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Tận dụng các ao hồ, đập nước đầu nguồn để vừa nuôi cá vừa giữ nước phục vụ thuỷ lợi. Ngoài ra còn tận dụng một số diện tích kết hợp lúa - cá tăng thu nhập cho người dân. Năm 2010 diện tích nuôi trồng thuỷ sản của xã là 49,53 ha.

Tóm lại: Nhìn tổng thể sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp của xã Tam Sơn, mặc dù còn không ít khó khăn và hạn chế nhưng đã có những tiến bộ nhất định trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, bố trí cơ cấu mùa vụ phù hợp với điều kiện tự nhiên, bắt đầu hình thành các mô hình... đem lại hiệu quả kinh tế cao. Trong tương lai khi quy mô diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do chuyển sang các mục đích sử dụng khác, xã cần phải khoanh định, duy trì một quỹ đất nông nghiệp ổn định, kết hợp với việc bố trí cây trồng, vật nuôi hợp lý... nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đất, nâng cao giá trị sản xuất, giữ vững và ổn định lương thực, tạo tiền đề thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển.

 |  Đầu trang
<<   <  1  2  3  >  >>
 
 
 
 
 
 
LỊCH LÀM VIỆC
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
âm nhạc
Skip portletPortlet Menu
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu