Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
hệ thống chính trị
Skip portletPortlet Menu
 
Tin tức sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
văn bản chỉ đạo điều hành
Skip portletPortlet Menu
 
CÔNG KHAI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Skip portletPortlet Menu
 
quy hoạch ptktxh
Skip portletPortlet Menu
 
văn hóa anh sơn
Skip portletPortlet Menu
 
doanh nghiệp
Skip portletPortlet Menu
 
Thông tin
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên huyện Anh Sơn
 


-->
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên huyện Anh Sơn (26/05/2011 03:03 PM)

I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ:

Anh Sơn là huyện miền núi thấp nằm về phía Tây Nam tỉnh Nghệ An. Toạ độ địa lý của trung tâm Huyện là : 18058'04'' Vĩ độ Bắc, 105004'30'' Kinh độ Đông.

Diện tích đất tự nhiên (theo thống kê diện tích ngày 01/01/2014)  toàn huyện: 60.326,11 km2, xếp thứ 11 trong 20 huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh.

Dân số huyện Anh Sơn có 102.902 khẩu, 28.189 hộ ( theo niêm giám thống kê huyện Anh Sơn đến 31/12/2013).

Anh Sơn giáp huyện Tân Kỳ và huyện Quỳ Hợp ở phía Bắc, huyện Thanh Chương ở phía Nam, huyện Đô Lương ở phía Đông, phía Tây giáp huyện Con Cuông và nước CHDC nhân dân Lào. Thị trấn Anh Sơn cách thành phố Vinh khoảng 100 km.

Huyện Anh Sơn có Quốc lộ 7 chạy qua theo hướng từ Đông sang Tây, đường Hồ Chí Minh chạy từ Bắc vào Nam. Có sông Lam, sông Con và sông Giăng chảy qua với bãi sông lớn nhất tỉnh, có vùng chè Gay nổi tiếng và thắng cảnh lèn Kim Nhan… có điều kiện thuận lợi để phát triển KTXH.

Nằm trong hành lang kinh tế Đông Tây (trục đường 7), trên các tuyến du lịch Quốc gia và Quốc tế (xuyên Việt theo đường Hồ Chí Minh, Vinh - Cánh đồng Chum - Luangprabang - Viên Chăn - Băng Cốc… qua Quốc lộ 7), Anh Sơn có nhiều lợi thế để phát triển du lịch và dịch vụ.

II. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN:

1.  Đặc điểm địa hình, địa mạo.

Địa hình huyện Anh Sơn dốc dần từ Tây sang Đông, điểm cao nhất là đỉnh Kim Nhan (Hội Sơn) 1.340m. Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 100-200m, thấp nhất là vùng ven bãi sông Lam (10-15m).

Địa hình chủ yếu là đồi núi có xen với đồng bằng, hai bên dốc dần vào sông Lam, bị chia cắt bởi các sông, suối.

Anh Sơn có 3 dạng địa hình: Đồng bằng ven sông, đồi và núi:

- Dạng đồng bằng ven sông: Chủ yếu nằm dọc hai bên bờ sông Lam, độ cao từ 30- 40m so với mực nước biển, chiếm 14% diện tích tự nhiên toàn huyện.

- Dạng đồi: Nằm phần lớn ở độ cao từ 100-200m, lượn sóng, độ dốc không lớn (8-15o), chiếm 56% diện tích tự nhiên toàn huyện, tập trung nhất là phía Nam và phía Tây của huyện.

- Dạng núi: Chủ yếu là núi thấp, độ cao từ 300- 500m, chiếm 26% diện tích tự nhiên, phần núi cao chiếm khoảng 4% diện tích tự nhiên, tập trung các xã Thọ Sơn, Thành Sơn, Bình Sơn, Đỉnh Sơn, Hội Sơn, Phúc Sơn. Các đỉnh cao là: Cao Vều 1.200 m, Kim Nhan 1.340 m.

2. Đặc điểm về khí hậu, thời tiết.

Anh Sơn có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang đặc trưng của khí hậu vùng Tây Nam Nghệ An. Có 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

- Nhiệt độ trung bình là 23,5 0C. Tháng 7 có nhiệt độ cao nhất (39oC), tháng 1 có nhiệt đô thấp nhất (7oC). Bức xạ mặt trời 74,6 Kcal/Cm2. Số giờ nắng trung bình trong năm là 1.073 giờ. Tổng tích ôn 3.500- 4.000oC.

- Lượng mưa bình quân là 1.760-1.820mm, tập trung vào 3 tháng (8, 9, 10) chiếm 60% lượng mưa cả năm.

- Độ ẩm không khí trung bình là 83%, cao nhất là 89% (từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau), thấp nhất là 60% (tháng 6, 7).

- Lượng bốc hơi trung bình hàng năm là 799mm.

- Có 2 hướng gió chính thịnh hành: Gió mùa Đông Bắc (tháng 11 đến tháng 4 năm sau) mang theo không khí lạnh làm nhiệt độ xuống thấp, gây giá rét. Gió mùa Đông Nam (từ tháng 5 đến tháng 10) và tháng 6, 7 có gió Tây Nam (gió Lào) gây khô nóng.

- Tài nguyên khí hậu nói chung thuận lợi để phát triển cây trồng, vật nuôi, song biên độ nhiệt giữa các mùa trong năm lớn, mưa tập trung, nắng nóng khô hanh, là những nguyên nhân gây hạn hán, lũ lụt, xói mòn đất, xói lở bờ sông…

3. Nguồn nước, thuỷ văn.

- Huyện Anh Sơn có 03 con sông chảy qua: Sông Lam chảy từ Tây sang Đông, qua 17 xã (từ Tam Sơn xuống Lĩnh Sơn) dài 72 km. Lưu lượng bình quân (tại Dừa) mùa kiệt là 80-100 m3/giây, mùa lũ là 1.000-1.200 m3/giây. Trung bình 424 m3/giây. Sông Con chảy qua 3 xã Bình Sơn, Thành Sơn và Đỉnh Sơn, đổ về sông Lam tại Cây Chanh (Đỉnh Sơn) dài 13 Km. Sông Giăng chảy qua huyện dài 27 km. Ngoài ra còn có nhiều khe, suối.

- Anh Sơn hiện có 72 hồ chứa nước, cùng với hệ thống sông, suối, có tổng diện tích mặt nước gần 3.000 ha, là huyện có nguồn nước mặt thuận lợi để cấp nước cho nông nghiệp và dân sinh. Song nguồn nước phân bố không đều giữa các vùng, các mùa, mực nước lại thấp so với độ cao đồng ruộng, địa hình không bằng phẳng lại bị chia cắt lớn. Vì vậy hiện tượng khô hạn trong mùa nắng nóng, lũ lụt về mùa mưa hàng năm vẫn xảy ra trên diện rộng.

- Nước ngầm: Tuy chưa có tài liệu điều tra chuyên ngành, nhưng qua thực tế khai thác của nhân dân thấy rằng: Nước ngầm phân bố khá rộng, chất lượng đảm bảo, có khả năng khai thác theo kiểu công nghiệp.

III. TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

1. Tài nguyên đất đai.

Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng tỉnh Nghệ An, huyện Anh Sơn có những loại đất chính sau:

a. Đất phù sa: Gồm 04 loại:

- Bãi cát ven sông: Phân bổ rải dọc theo hai bờ sông Lam, diện tích khoảng 60 ha, địa hình tương đối bằng phẳng, thấp, thường bị ngập lụt hàng năm, là nguồn cung cấp cát, sỏi xây dựng.

- Đất phù sa được bồi đắp hàng năm: Diện tích khoảng 2.579 ha (4,25% diện tích tự nhiên), phân bổ ở các xã dọc sông Lam. Thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, là loại đất có nhiều tính chất tốt, phù hợp cho trồng các loại cây Ngô, Lạc, Mía, Đậu đỗ, Rau,… cơ bản đã được sử dụng hết vào sản xuất nông nghiệp.

- Đất phù sa không được bồi: Diện tích 5.728 ha (chiếm 9,45% diện tích tự nhiên), phân bổ ở các xã Hùng Sơn, Hội Sơn, Tường Sơn, Đức Sơn, Thạch Sơn, Long Sơn, Lạng Sơn, Tào Sơn, Bình Sơn, Thành Sơn. Thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt nặng, hầu hết có sản phẩm Pheralit, có phản ứng chua, ít mùn. Đất lúa của huyện hầu hết tập trung ở loại đất này, ở những nơi cao không có nước tưới thì trồng các loại cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày.

- Đất phù sa ngòi suối, đất dốc tụ: Phù sa ngòi suối chiếm khoảng 200 ha, tập trung ở Thọ Sơn, Phúc Sơn, Lĩnh Sơn. Đất dốc tụ chiếm diện tích 440 ha ở Phúc Sơn, Lĩnh  Sơn và rải rác ở một số xã. Thường được sử dụng trồng màu hoặc lúa tùy theo điều kiện địa hình và khả năng cung cấp nước.

b. Đất đồi núi: Gồm 08 loại:

- Đất Pheralit nâu vàng phát triển trên nền phù sa cổ: Diện tích khoảng 1.993 ha (3,28% diện tích). Phân bố ở Thành Sơn, Bình Sơn. Là loại đất đồi có lý tính tốt, chất dinh dưỡng khá. Hiện tại hầu hết được bố trí các khu dân cư.

- Đất Pheralit nâu đỏ phát triển trên đá vôi: Diện tích khoảng 392Ha, có ở dưới chân núi đá vôi tại Cẩm Sơn, Đỉnh Sơn, Thọ Sơn. Là loại đất khá tốt, có thể trồng cây công nghiệp như cà phê, chè, cây ăn quả và các loại rau màu khác. Hiện nay hầu hết loại đất này đã được sử dụng.

- Đất Pheralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét: Diện tích 22.015 ha (36,33% tổng diện tích tự nhiên). Phân bổ hầu hết ở vùng đồi của huyện, xã nào cũng có, nhiều nhất là ở Cao Sơn, Khai Sơn, Long Sơn, Phúc Sơn. Đây là loại đất quan trọng, đầy tiềm năng và là thế mạnh của huyện. Là loại đất tương đối tốt về lý tính cũng như hóa tính. Thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, thích hợp cho trồng nhiều loại cây công nghiệp và cây ăn quả, rau màu, trồng rừng, làm đồng cỏ. Một số nơi lâu nay sử dụng không hợp lý nên đã thoái hóa nghiêm trọng, bị xói mòn tầng đất mỏng.

- Đất Pheralit đỏ vàng phát triển trên đá sa thạch: Diện tích 5.843 ha (9,64% diện tích tự nhiên), có ở vùng Vĩnh Sơn, Thọ Sơn. Đất có thành phần cơ giới nhẹ, tầng đất mỏng hơn so với đất phát triển trên đá phiến thạch. Đất này sử dụng làm đồng cỏ chăn nuôi và trồng cây lâm nghiệp.

- Đất Pheralit vàng đỏ phát triển trên đá Mácma axit (Granite): Có ở Vĩnh Sơn, diện tích khoảng 100 ha. Loại đất này lý tính và hóa tính đều kém, chỉ dùng trồng cây lâm nghiệp.

- Đất Pheralitic xói mòn trơ sỏi đá: Diện tích 1.278 ha (2,1% diện tích tự nhiên) phân bố rải rác ở một số đồi núi trong một số xã. Do quá trình sử dụng không hợp lý nên đất bị xói mòn mạnh, bề mặt trơ sỏi đá, cần nhanh chóng trồng cây lâm nghiệp để bảo vệ đất không bị thoái hóa tiếp.

- Đất Pheralitic trên núi: Độ cao từ 200-700 m. Có diện tích 12.082 ha (19,94%  diện tích tự nhiên). Phân bố ở vùng núi Cao Sơn, Phúc Sơn. Đất có phản ứng chua, tỷ lệ mùn tăng dần theo độ cao. Thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc trung bình. Là loại đất tương đối tốt nhưng do đặc điểm độ dốc và cao độ nên chủ yếu dành cho lâm nghiệp. Hiện nay phần lớn đất này đang là rừng tự nhiên.

- Đất Pheralitic mùn trên núi (độ cao 800-1.500 m): Có diện tích 2.193 ha (3,63% diện tích tự nhiên), có ở Cao Sơn. Hiện đang là rừng tự nhiên.

BẢNG TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN ĐẤT

TT

Loại đất

Diện tích (Ha)

Địa bàn phân bố

Tính chất cơ bản

Hiện trạng sử dụng

I

ĐẤT PHÙ SA

 

 

 

 

1

Bãi cát ven sông

60

Dọc 2 bên sông Lam

Chủ yếu là cát, sỏi

Vật liệu xây dựng

2

Phù sa được bồi hàng năm

2.579

Các xã dọc sông Lam

Cát pha+thịt nhẹ

Trồng lúa, rau, màu (đã sử dụng hết)

3

Phù sa không được bồi

5.728

Các xã Hùng, Hội, Tường, Đức, Thạch, Long, Lạng, Tào, Thành và Bình Sơn

ở điạ hình cao, nguồn gốc phù sa, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt nặng

Trồng lúa là chủ yếu, nơi cao thì trồng màu và cây CN ngắn ngày

4

Phù sa ngòi suối, dốc tụ

640

Tại Thọ, Phúc, Lĩnh Sơn và rải rác một số xã

Phù sa ngòi suối và đất dốc tụ

Trồng màu hoặc lúa

II

ĐẤT ĐỒI NÚI

 

 

 

 

1

Đất Pheralit nâu vàng phát triển trên phù sa cũ

1.993

Tại Thành, Bình Sơn (dãy đồi sát hữu ngạn sông Con

Đất đồi có lý tính tốt, chất dinh dưỡng khá

Hầu hết đã bố trí khu dân cư

2

Đất Pheralit nâu đỏ phát triển trên đá vôi

392

Dưới chân núi đá vôi ở Cẩm, Đỉnh, Thọ Sơn

Có cấu tượng tốt, khả năng giữ nước, giữ màu khá

Trồng cây CN, ăn quả, rau, màu (đã sử dụng hết)

3

Đất Pheralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét

22.015

Ở hầu hết vùng đồi, xã nào cũng có. Nhiều nhất là ở Cao, Khai, Long, Phúc Sơn

Tương đối tốt về lý, hóa tính, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến TB

Trồng cây CN, ăn quả, cây màu, đồng cỏ và bố trí dân cư

4

Đất Pheralit vàng đỏ phát triển trên đá sa thạch

5.843

Tại Vĩnh Sơn, Thọ Sơn

Thành phần cơ giới nhẹ hơn, tầng đất mỏng hơn

Trồng cây lâm nghiệp, đồng cỏ

5

Đất Pheralit vàng đỏ phát triển trên đá Macma Axit

100

Tại Vĩnh Sơn

Lý, hóa tính đều kém

Trồng cây lâm nghiệp

6

Đất Pheralit xói mòn trơ sỏi đá

1.278

Rải rác ở một số đồi núi các xã

Xói mòn mạnh, bề mặt trơ sỏi đá

Cần trồng cây lâm nghiệp

7

Đất Pheralit trên núi (200-700m)

12.082

Vùng núi Cao Sơn, Phúc Sơn

Thành phần thịt nhẹ hoặc TB

Hiện phần lớn là rừng tự nhiên

8

Đất Pheralit mùn trên núi (800-1.500m)

2.193

Cao Sơn

Tỷ lệ mùn cao, chua

Rừng tự nhiên

2. Tài nguyên rừng và thảm thực vật, động vật.

Năm 2011 toàn huyện có 35.192,79 ha đất lâm nghiệp, trong đó:

- Rừng sản xuất:      24.924,26 ha

- Rừng phòng hộ:    8.023,83 ha

- Rừng đặc dụng:    2.244,70 ha

Theo số liệu điều tra của ngành lâm nghiệp tỉnh, trữ lượng gỗ huyện Anh Sơn khoảng 650.475 m3; 21,5 triệu cây Nứa (228 ha). Ngoài ra còn có Song, Mây, cây Dược liệu và nhiều loài động vật quý hiếm.

Rừng đặc dụng ở Anh Sơn thuộc vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát. Tiềm năng lâm nghiệp của Anh Sơn rất lớn và đa dạng. Đất lâm nghiệp chủ yếu là dồi và núi thấp, độ dốc không lớn, thổ nhưỡng tốt do vậy không phải đầu tư nhiều vào tu bổ, chăm sóc. Điều kiện kết hợp nông, lâm thuận lợi. Vấn đề đặt ra là cần phải bảo vệ tốt diện tích rừng và khai thác hợp lý nguồn lợi lâm sản.

3. Tài nguyên khoáng sản.

Khoáng sản tại Anh Sơn chủ yếu là nhóm làm vật liệu xây dựng:

Đá vôi xi măng có ở Hội Sơn, trữ lượng khoảng 3.300 triệu tấn, chất lượng đảm bảo cho sản xuất xi măng. Ngoài ra còn có ở Long Sơn, Phúc Sơn...

- Sét xi măng ở Hội Sơn, Phúc Sơn, trữ lượng khoảng 125 triệu tấn (0,4 km2)

- Đá vôi xây dựng có ở nhiều xã trong huyện, trữ lượng rất lớn, dễ khai thác và vận chuyển.

Ngoài ra Anh Sơn còn có Phốt pho rit ở Tường Sơn (Hang Lèn Mọ, Xin Nghi, Ao các), hàm lượng P2O5 chiếm 8-16%, trữ lượng khoảng 240.000 tấn, hiện chưa tổ chức khai thác; Quặng đa kim loại ở Thọ Sơn…

 |  Đầu trang
<<   <  1  >  >>
 
 
 
 
 
 
LỊCH LÀM VIỆC
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
âm nhạc
Skip portletPortlet Menu
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu